Sách là cây đèn thần soi sáng cho con người trên những nẻo đường xa xôi nhất và tối tăm nhất của cuộc đời. A.U.pit (Lit-va) *** Học để là người (Tục ngữ) *** Học - học nữa - học mãi (Lê-nin) ***
Hôm nay, ngày 17-07-2019  
   
 
Trang chủ Thông tin nội bộ Liên hệ
ĐĂNG NHẬP
Tên đăng nhập Mật khẩu
TIN TỨC SỰ KIỆN
  Phát biểu kỉ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân VIỆT NAM, 25 năm ngày hội quốc phòng toàn dân  
Ngay từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng ta đã quán triệt sâu sắc học thuyết Mác - Lê nin về bạo lực cách mạng của giai cấp vô sản. Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng đã khẳng định con đường đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc là dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền và yêu cầu phải tổ chức lực lượng vũ trang để làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh cách mạng.

I/ KỈ NIỆM 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QĐND VN

1. Sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944)

Ngay từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng ta đã quán triệt sâu sắc học thuyết Mác - Lê nin về bạo lực cách mạng của giai cấp vô sản. Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng đã khẳng định con đường đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc là dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền và yêu cầu phải tổ chức lực lượng vũ trang để làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh cách mạng. Từ tháng 9 năm 1939, trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, các cuộc khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích đã diễn ra trên nhiều địa phương. Hàng loạt tổ chức vũ trang lần lượt được thành lập và phát triển như: Du kích Nam Kỳ (1940), Đội du kích Bắc Sơn (1941), Cứu quốc quân (1941)... Phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp và sự trưởng thành nhanh chóng của các tổ chức vũ trang quần chúng đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc.

Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập theo Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 người, biên chế thành 03 tiểu đội do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ của Đảng quyết định hợp nhất các tổ chức vũ trang trên cả nước (hợp nhất Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các tổ chức vũ trang khác), thành lập Việt Nam giải phóng quân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành Vệ quốc đoàn, rồi Quân đội quốc gia Việt Nam (năm 1946), đến năm 1950 được đổi tên là Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 22-12- 1944 được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

2. Truyền thống chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, sự nuôi dưỡng và đùm bọc của nhân dân, quân đội ta đã không ngừng phát huy bản chất tốt đẹp, vừa xây dựng, vừa chiến đấu và trưởng thành, xây đắp nên truyền thống rất vẻ vang, được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”

Trải qua 70 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, cùng với những chiến công mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc như những biểu tượng sáng ngời về một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ, Quân đội ta đã xây đắp nên những truyền thống cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là:

Một là, trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với Đảng, Nhà nước và nhân dân

Hai là, quyết chiến, quyết thắng, biết đánh và biết thắng

Ba là, gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân một ý chí

Bốn là, đoàn kết nội bộ, cán bộ, chiến sĩ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thương yêu giúp đỡ nhau, trên dưới đồng lòng thống nhất ý chí và hành động

Năm là, kỷ luật tự giác, nghiêm minh

Sáu là, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, cần, kiệm xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng và bảo vệ của công

Bảy  là, lối sống  trong  sạch, lành mạnh, có  văn  hóa, trung  thực,  khiêm  tốn, giản dị, lạc quan

Tám là, luôn luôn nêu cao tinh thần ham học, cầu tiến bộ, nhạy cảm, tinh tế trong cuộc sống

Chín là, đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình

II/ 25 NĂM THỰC HIỆN NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN (22/12/1989 - 22/12/2014)

Quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, bao gồm tổng thể các hoạt động về chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự, văn hoá, khoa học… của Nhà nước và nhân dân để tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, đồng bộ, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang là nòng cốt, nhằm giữ vững hoà bình, ổn định đất nước, ngăn chặn các hoạt động phá hoại, gây chiến, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đồng thời sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức và quy mô.

Nền quốc phòng toàn dân là sự cụ thể hoá chính sách quốc phòng của Việt Nam, thể hiện ở cơ cấu tổ chức, hoạt động của các ngành, các cấp và của toàn dân theo một ý định, chiến lược thống nhất, nhằm tạo ra sức mạnh hiện thực để bảo vệ Tổ quốc. Mục đích của nền quốc phòng toàn dân là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ an ninh quốc gia trên mọi lĩnh vực; bảo vệ chế độ; bảo vệ mọi thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan gây bạo loạn, xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hoà bình ổn định để công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đồng thời sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong thời kỳ mới là nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước, ngăn ngừa và sẵn sàng đánh thắng các loại hình chiến tranh xâm lược của kẻ thù trong mọi hoàn cảnh. Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng theo phương hướng: toàn dân, toàn diện, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là xây dựng cả lực lượng và thế trận; xây dựng tiềm lực mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực chính trị - tinh thần; phát huy sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Theo nguyện vọng của nhân dân cả nước, ngày 17 tháng 10 năm 1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) đã ra Chỉ thị số 381-CT/TƯ quyết định lấy ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12) đồng thời là Ngày Hội quốc phòng toàn dân. Từ đây, ngày 22 tháng 12 thực sự trở thành ngày hội của truyền thống bảo vệ Tổ quốc, ngày hội tôn vinh và nhân lên hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” - một nét độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Đây cũng là dịp để phát huy truyền thống yêu nước, biểu dương sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Từ năm 1989 đến nay, ngày 22 tháng 12 đã trở thành ngày hội lớn của toàn dân tộc với các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ", giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; cổ vũ, động viên mỗi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh trong tình hình mới.

Qua 25 năm thực hiện Ngày Hội quốc phòng toàn dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng.

Một là, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của toàn xã hội và sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân

Hai là, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm môi trường ổn định, hòa bình và an ninh cho sự phát triển đất nước; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

Ba là, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc được tăng cường, tăng thêm khả năng ngăn chặn, loại trừ nguy cơ chiến tranh và khả năng đối phó thắng lợi các tình huống chiến tranh, các tình huống xâm phạm an ninh quốc gia, nếu xảy ra

Bốn là, hình thành thế chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc được triển khai rộng khắp, chặt chẽ và liên hoàn; “thế trận lòng dân” được củng cố vững chắc

Năm là, lực lượng vũ trang mà nòng cốt là quân đội nhân dân có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, phát huy được vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 
III/ NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TRAO TẶNG QĐND VN

                70 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và chiến thắng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã bốn lần được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng (Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta) vào các năm 1974, 1979, 1984, 1999. Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tặng thưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Huân chương Sao vàng quốc gia (Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Lào) ngày 18 tháng 12 năm 1984. Nhà nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia tặng thưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Huân chương Ăng-co (Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Cam-pu-chia) ngày 19 tháng 12 năm 1984.

Toàn quân có 47 tập thể và 14 cá nhân được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng; 146 tập thể và 37 cá nhân được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; 2.108 tập thể và 1.912 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 61 tập thể và 39 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lao động; 1.158 tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Độc lập; 823.385 tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công; hàng vạn cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng Huân chương, Huy chương khác.

Trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, đã có hàng trăm đơn vị, hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam được Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tặng thưởng Huân chương Tự do, Huân chương Anh dũng, Huân chương Lao động, Huân chương Hữu nghị và Nhà nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia tặng thưởng Huân chương Ăng-co, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc vì đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc trong nhiệm vụ chiến đấu và công tác giúp bạn./.

CÁC TIN KHÁC
Sinh hoạt ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6/2019 (06-06-2019)
LỄ TRAO HỌC BỔNG KHUYẾN HỌC, KHUYẾN TÀI “CHI BẰNG HỌC” CỦA QUỸ THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GON (STF) TRONG LỄ BẾ GIẢNG NĂM HỌC 2018-2019 (31-05-2019)
Hoạt động Hưởng ứng ngày sách việt nam năm 2019 (22-04-2019)
Cựu Học sinh Phan Châu Trinh niên khóa 1993-1996 trao quỹ học bổng cho trường... (26-03-2019)
Chi hội Khuyến học Phan Châu Trinh trao học bổng trong đợt sơ kết Học kỳ I năm học 2018-2019 (13-03-2019)
Hoạt động chào mừng 109 năm ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3/2019) (11-03-2019)
Ngày Hội Văn hóa dân gian năm 2019 (29-01-2019)
Giáo dục kỹ năng giải quyết những khó khăn trong học tập, gia đình và cuộc sống..... (18-12-2018)
Hưởng ứng tháng hành động quốc gia phòng chống HIV/AIDS năm 2018 (04-12-2018)
Hoạt động kỷ niệm 36 năm ngày Nhà Giáo Việt Nam (20/11/1982-20/11/2018) (24-11-2018)
Lịch làm việc tuần 37 (từ 20/5/2019 đến 26/5/2019)
Lịch làm việc tuần 36 (từ 13/5/2019 đến 19/5/2019)
Lịch công tác tháng 5 năm 2018
Lịch công tác tháng 4 năm 2018
Lịch công tác tháng 3 năm 2018
Huỳnh Thị Thúy Vy
lớp 10/14; Huy chương vàng môn Bóng bàn nữ (giải TDTT cấp thành phố).
Nguyễn Phạm Anh Dũng

lớp 10/15; Huy chương vàng môn Bóng bàn nam (giải TDTT cấp thành phố).

Huỳnh Huy Hoàng
lớp 10/6; Giải nhất kỳ thi KHKT cấp quốc gia.
Nguyễn Minh Tuấn
lớp 11/21; Giải tư kỳ thi KHKT cấp quốc gia.
Đặng Phước Minh

lớp 12/3; Giải tư kỳ thi KHKT cấp quốc gia.

Lê Vĩnh Bảo
lớp 10/26; Giải nhất môn Điều lệnh (Hội thao GDQP cấp thành phố).